Hồi ký Đời Tôi (L. Trotsky) (Chương VI)


Hồi ký Đời Tôi của nhà cách mạng Leon Trotsky đã được nhóm Đệ tứ Cộng sản Việt Nam dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và xuất bản tại Pháp năm 1998 cũng như trên website Tủ Sách Nghiên Cứu. Do nhiều nguyên nhân, hiện tại ấn bản điện tử đã không còn trên mạng.

Nhận thấy tác phẩm cung cấp góc nhìn sâu và từ cá nhân của Trotsky, có thể giúp độc giả hiểu về chủ nghĩa Marx chân chính, hiểu cuộc đấu tranh phức tạp trước, trong và sau cách mạng Nga, Chuông Rè trân trọng đăng tải toàn văn tác phẩm này.

Nguyên tác: ЛЛЕЕВВ ТТРРООЦЦККИИЙЙ:: ММООЯЯ ЖЖИИЗЗННЬЬ II––IIII

Tủ sách Nghiên cứu dịch theo bản tiếng Pháp:

Léon Trotsky: Ma Vie

Nhà xuất bản Gallimard, Paris 1953

Hoàng Nguyễn đối chiếu, sửa chữa và chỉnh lý theo bản tiếng Hung: Lev Trockij: Életem

Nhà xuất bản Kossuth, Budapest 1989

Trình bày bìa: Hoàng Giang In lần thứ nhất tại Hungary, 1998

SỰ CÔNG PHÁ

Sự phát triển chính trị nước Nga kể từ giữa thế kỷ trước phải được tính bằng những giai đoạn mười năm. Những năm sáu mươi, thời kỳ sau chiến tranh Cờrưm [Crimée] là thời đại ánh sáng, thế kỷ XVIII ngắn ngủi của chúng tôi. Trong thập kỷ tiếp theo, giới trí thức tìm cách rút ra các kết luận thực tiễn từ những ý tưởng khai sáng: mở đầu, họ đi về với nhân dân, tuyên truyền cách mạng và kết thúc bằng sự khủng bố. Những năm bảy mươi đi vào lịch sử chủ yếu như giai đoạn của đảng Tự do Nhân dân. Các phần tử ưu tú nhất của thế hệ này tự thiêu hủy mình trong ngọn lửa của những vụ nổ bom. Kẻ thù đứng vững trên mọi vị trí. Tiếp theo đó, những năm tám mươi là thập kỷ của sự sa sút, thất vọng, bi quan, của những tìm tòi tôn giáo và luân lý. Tuy nhiên, nấp dưới bóng phản động, các lực lượng tư bản vẫn âm ỉ hoạt động. Thập kỷ chín mươi đến cùng những cuộc đình công và tư tưởng mác-xít. Sự trỗi dậy mới đạt tới đỉnh cao vào những năm đầu của thế kỷ chúng ta: năm 1905.

Thập kỷ tám mươi gắn liến với tên tuổi Pôbêđônốtxép, Tổng quản Hội đồng Giáo hội Nga, đại diện kinh điển của chế độ chuyên chế và bất động toàn diện. Những người tự do chủ nghĩa coi ông ta như một kẻ quan liêu thuần túy, xa lạ với mọi sự trên đời. Nhưng không phải vậy. Pôbêđônốtxép biết đánh giá một cách khôn ngoan hơn, nghiêm túc hơn các nhà tự do về những mâu thuẫn tiềm ẩn sâu kín trong đời sống nhân dân. Ông hiểu rằng nếu họ thả lỏng những chiếc ốc vít, áp lực từ dưới lên sẽ làm bật tung ”cái vung” xã hội và tan tành tất cả mọi thứ vốn được Pôbêđônốtxép và cả các nhà tự do coi là nền móng của văn minh và đạo đức. Bằng cách riêng của ông, Pôbêđônốtxép nhìn nhận sâu sắc hơn những người tự do. Không phải lỗi của ông mà quá trình lịch sử tỏ ra mạnh hơn cái hệ thống Bidanxơ [Byzance] vốn được bảo vệ hết lòng bởi vị quân sư của Alếchxanđơrơ Đệ tam và Nhicôlai Đệ nhị.

Trong những năm tám mươi đen tối, khi tất cả dường như đã tiêu tan đối với các nhà tự do chủ nghĩa, Pôbêđônốtxép cảm thấy làn sóng âm ỉ và lòng đất chuyển rung dưới chân mình. Ông không yên lòng ngay cả trong những năm lặng lẽ nhất của triều đại Alếchxanđơrơ Đệ tam. Ông viết cho những kẻ tâm phúc của mình:

Điều đó đã rất nặng nề, đang còn nặng nề và – phải nói một cách đắng cay – sẽ vẫn nặng nề. Linh hồn tôi không thoát khỏi cảm giác đè nén vì lúc nào tôi cũng nhìn thấy và cảm thấy tinh thần của thời đại như thế nào và những con người đã biến chuyển ra sao… So sánh hiện tại với quá khứ xa xăm, chúng ta cảm thấy đang sống trong một thế giới khác, trong đó mọi thứ đang trở về thời nguyên thủy hỗn mang và chúng ta bất lực trong cái trào lưu ấy.

Số phận cho Pôbêđônốtxép sống được đến năm 1905, khi chính những sức mạnh trong lòng đất – vốn làm ông khiếp sợ – nổ bùng trên bề mặt và những vết nứt sâu đầu tiên làm thành một mạng lưới giăng phủ khắp nền móng và bức tường chính của tòa nhà cũ kỹ.

1891 được coi là năm chính thức của sự rạn nứt chính trị ở Nga, đáng nhớ bởi mùa màng thất bát và đói kém. Thập kỷ mới đẻ ra vấn đề công nhân, không chỉ ở nước Nga. Năm 1901, đảng Xã hội Đức thông qua bản cương lĩnh tại Écphuốc [Erfurt]. Giáo hoàng Lêôn [Léon] XIII đưa ra một thông cáo về tình hình giới thợ thuyền. Ghiôm [Guillaume] Đệ nhị cũng bận tâm đến những tư tưởng xã hội trong đó sự dốt nát lố lăng đi đôi với thứ lãng mạn quan liêu. Sự thân cận của Nga hoàng với nước Pháp thúc đẩy làn sóng tư bản đổ vào Nga. Víttê [Witte] được cử làm bộ trưởng Tài chính, đây là khởi đầu của kỷ nguyên bảo hộ công nghiệp. Chủ nghĩa tư bản phát triển bão táp đẻ ra cái ”tinh thần thời đại” khiến Pôbêđônốtxép dự cảm thấy nhiều điều nhọc nhằn, trăn trở.

Như hệ quả của những biến đổi chính trị, có thể thấy rõ sự năng động, chủ yếu trong giới trí thức. Những nhà mác-xít trẻ tiến bước ngày một đông và cương quyết. Đồng thời, chủ nghĩa dân túy đã ngủ yên cũng bắt đầu thức tỉnh. Tác phẩm mác-xít công khai đầu tiên ra đời năm 1893 dưới ngòi bút của Xtruvê [Strouvé]. Hồi ấy tôi mới mười bốn tuổi và những vấn đề này còn xa lạ với tôi.

Alếchxanđơrơ Đệ tam mất năm 1894. Như thường lệ trong những trường hợp tương tự, phái tự do đặt hi vọng vào người kế vị. Nhưng nhà vua mới đáp họ bằng một cái tát nảy lửa. Tiếp các đại biểu Demxtvô [Zemstvo], vị Nga hoàng trẻ coi những hi vọng lập hiến của họ là ”mơ tưởng vô nghĩa”. Tuyên bố này được đăng tải trên mọi báo chí. Người ta truyền miệng nhau rằng trong bản thảo bài diễn văn của Nga hoàng, đoạn trên được ghi là ”mơ tưởng không có chỗ đứng”; nhưng do quá xúc động, nhà vua đã nói thô thiển hơn ý ngài muốn.

Lúc đó tôi mười lăm tuổi. Một cách tự phát, tôi đứng về phe ”mơ tưởng vô nghĩa” mà không về phía Nga hoàng. Tôi tin tưởng mơ hồ rằng sự phát triển từng bước sẽ đưa nước Nga lạc hậu đến gần châu Âu tiền tiến. Ngoài ra, tôi không có những lý tưởng chính trị sâu xa hơn.

Về mặt chính trị, Ôđétxa là thành phố thương mại, ồn ào, nhiều màu sắc và có thành phần dân cư hỗn tạp, bị các trung tâm khác bỏ rất xa. Thời đó, tại Pêtécbua, Mátxcơva, Kiép đã có khá nhiều nhóm xã hội hoạt động trong các trường học. Còn ở Ôđétxa thì vẫn chưa.

Phriđrích Ăngghen [Friedrich Engels] mất năm 1895. Tại nhiều thành phố Nga người ta tưởng nhớ đến ông trong những buổi nói chuyện bí mật ở các câu lạc bộ sinh viên và học sinh. Tôi sắp được mười sáu tuổi nhưng chưa biết đến cả cái tên Ăngghen và có lẽ không nói nổi điểm nào cụ thể về Mác [Marx]; xét cho cùng tôi chưa biết gì về ông.

Thiên hướng chính trị của tôi trong nhà trường mang tính đối lập khá mù mịt, nhưng chỉ đến thế. Ở học đường vào thời tôi, không bao giờ người ta bàn về những vấn đề cách mạng. Người ta chỉ thì thào rằng trong phòng thể dục tư của ông Nôvắc [Novak], một người Tiệp, có các nhóm hội họp gì đó, có cả những vụ bắt bớ và chính vì thế, Nôvắc – cũng là thầy dạy thể dục ở trường tôi – đã bị đuổi khỏi trường và một sĩ quan thế chân ông.

Trong môi trường mà tôi lui tới bởi quan hệ với gia đình Spenxe, người ta bất bình với chế độ nhưng cho là không thể lay chuyển được nó. Những kẻ mạnh dạn nhất cùng lắm chỉ mơ tưởng đến một hiến pháp sau vài thập kỷ nữa. Ianốpca càng không đáng nhắc đến.

Khi tốt nghiệp trường Trung học Hiện đại, tôi trở về làng với những tư tưởng dân chủ mơ hồ của

mình, cha tôi liền ôm đầu và tuyên bố ngay, vẻ gay gắt:

– Có ba trăm năm nữa cũng không được như thế…

Ông tin tưởng sắt đá rằng những cố gắng cải cách là vô ích và ông lo sợ cho con trai mình.

Năm 1921, khi đã thoát khỏi hiểm họa Bạch vệ và Hồng quân, cha tôi đến gặp tôi ở điện Cờremlin, tôi nói đùa với ông:

– Cha có nhớ không, cha bảo rằng chế độ Nga hoàng còn tồn tại đến ba trăm năm nữa… Ông già cười hóm hỉnh và trả lời tôi bằng tiếng Ucơraina:

– Lần này thì chân lý của con đã thắng rồi…

Trong giới trí thức đầu những năm chín mươi, các tư tưởng của Tônxtôi đang hấp hối, chủ nghĩa mác-xít ngày càng chiến thắng những ý tưởng dân túy. Tiếng vang của cuộc đấu tranh tư tưởng này được phản ánh trên khắp các báo thuộc mọi khuynh hướng. Đâu đâu người ta cũng nhắc đến những thanh niên tràn đầy niềm tin, họ tự gọi mình là ”duy vật”. Tôi chỉ nhận thấy điều đó lần đầu vào năm 1896.

Các vấn đề đạo đức cá nhân dính líu mật thiết đến ý thức hệ thụ động của những năm tám mươi trượt qua tôi trong một giai đoạn mà ”tu thân” đối với tôi như một nhu cầu hữu cơ của sự trưởng thành tâm tưởng, hơn là sự định hướng trí tuệ. Nhưng sự tu thân ấy rơi ngay vào vấn đề ”thế giới quan”, điều này đưa tôi đến một lựa chọn cơ bản: ”dân túy hay mác-xít?” Cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng chỉ lôi cuốn tôi chậm vài năm so với biến chuyển tư tưởng chung diễn ra trong nước. Khi tôi mới tìm hiểu các vấn đề cơ bản của kinh tế học và tự đặt cho mình câu hỏi ”nước Nga có phải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa không?” thì những nhà mác-xít thế hệ trước đã tìm ra con đường đến với giới công nhân và trở thành những người xã hội dân chủ.

Trên đường đến ngã tư đầu tiên của đời tôi, tôi vốn ít được chuẩn bị về chính trị, dù đã là một thanh niên mười bảy tuổi. Quá nhiều vấn đề đột ngột đặt ra trước mẳt tôi cùng một lúc, không hề theo thứ tự cần thiết. Tôi nhảy cóc từ vấn đề này sang vấn đề khác. Chỉ một điều chắc chắn: một trữ lượng dồi dào những tư tưởng phản kháng xã hội đã lắng đọng trong ý thức tôi. Chúng gồm có gì? Thiện cảm với những kẻ bị áp bức và bất bình trước bất công. Có lẽ cảm giác cuối này mạnh hơn cả. Từ thời thơ ấu, sự bất bình đẳng hết sức thô bỉ và phô trương giữa con người xuất hiện trong mọi ấn tượng của tôi, sự bất công thường nhuốm màu láo xược và không bao giờ bị trừng phạt, nhân phẩm luôn bị giày đạp. Chỉ cần nghĩ dến việc nông dân bị trừng trị về thể xác. Tôi cảm nhận hết sức sâu sắc những điều đó trước khi biết bất cứ một thứ lý thuyết gì và đây là cả một kho ấn tượng với sức công phá lớn. Có lẽ chính vì thế, tôi do dự trong một thời gian dài trước khi rút được những kết luận lớn mà lẽ ra tôi đã phải có từ những quan sát thuộc giai đoạn đầu đời.

Nhưng sự tiến hóa của tôi còn có mặt khác nữa. Thời kỳ chuyển đổi thế hệ, lắm khi cái đã chết lại cuốn theo cái đang sống. Điều này cũng xảy ra với thế hệ những nhà cách mạng Nga mà tuổi niên thiếu được hình thành trong bầu không khí ngột ngạt của thập niên tám mươi. Tuy có những triển vọng lớn do học thuyết mới mở ra, trong thực tế, những nhà mác-xít bị hạn chế bởi thứ tình cảm bảo thủ rơi rớt từ năm 1880: họ bất lực trước những khởi xướng mới, họ rút lui khi gặp chướng ngại, họ đẩy cách mạng đến một tương lai vô định và họ có xu hướng coi chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp tiến hóa của vài thế kỷ.

Trong một gia đình như gia đình Spenxe, tiếng nói phê phán chính trị đúng ra phải mạnh hơn nhiều nếu nó được vang lên sớm hơn hay muộn hơn vài năm. Nhưng tôi đến chỗ họ vào những năm im ắng nhất. Hầu như trong gia đình không có những cuộc nói chuyện về chính trị, người ta né tránh các vấn đề lớn. Ở nhà trường, tình hình cũng tương tự. Dĩ nhiên tôi cũng ngấm bầu không khí ấy của những năm tám mươi. Và sau này, khi tôi bắt đầu tự rèn luyện thành nguời cách mạng, đôi khi tôi chợt nhận ra mình đã nghi ngờ tác động của quần chúng, tôi suy nghĩ một cách sách vở, trừu tượng – và do đó – với tư tưởng hoài nghi về cách mạng. Tôi phải chiến đấu với tất cả những điều này trong bản thân – bằng suy ngẫm, bằng học hỏi sách vở, nhất là qua việc trau dồi kinh nghiệm – cho đến ngày tôi vượt lên sức ỳ của tâm lý.

Tuy nhiên trong cái rủi cũng có cái may. Có thể chính hoàn cảnh khiến tôi phải chiến thắng một cách có ý thức trong bản thân những tàn dư của thập kỷ tám mươi, đã tạo điều kiện khiến tôi xem xét nghiêm túc hơn, cụ thể hơn và sâu sắc hơn về các vấn đề cơ bản trong hành động của quần chúng. Chỉ có gì ta giành được trong đấu tranh mới có tính lâu bền. Nhưng điều này đã thuộc về các chương khác của cuốn tự thuật.

Vào năm thứ bảy, tôi không học ở Ôđétxa mà ở Nhicôlaiép. Đó là một thành phố quê mùa, trình độ giáo dục của nhà trường cũng thấp hơn. Nhưng năm tôi học ở đấy (1896) lại đánh dấu bước ngoặt của tuổi thiếu niên tôi. Một câu hỏi đặt ra trong tôi: đâu là vị trí của tôi trong xã hội loài người? Tôi sống trong một gia đình mà những đứa trẻ đã trưởng thành và đụng chạm ít nhiều đến các trào lưu mới. Đáng chú ý là trong thời gian đầu, tôi cương quyết bác bỏ ”những điều không tưởng của chủ nghĩa xã hội”. Tôi làm bộ một kẻ hoài nghi đã trải qua tất cả những điều đó. Tôi luôn phản ứng về các vấn đề chính trị với một giọng nhạo báng vẻ bề trên. Bà chủ trọ nhìn tôi vẻ ngạc nhiên và còn nêu gương tôi với các con bà – dù thực ra bà cũng không tin lắm vào lời mình – những anh này lớn tuổi hơn tôi đôi chút và nghiêng về cánh tả. Về phần tôi, đó chỉ là một cuộc chiến không cân sức cho sự độc lập bản thân. Tôi cố thoát khỏi ảnh hưởng cá nhân của những nhà xã hội trẻ tuổi mà số phận đã đưa tôi đến với họ. Cuộc chiến đấu ấy chỉ kéo dài vài tháng. Những tư tưởng thời thượng đã tỏ ra mạnh hơn, hơn nữa, tự đáy lòng, tôi không mong gì hơn là quy thuận họ. Ngay sau những tháng đầu ở Nhicôlaiép, cung cách cư xử của tôi đã thay đổi tận gốc rễ. Tôi từ bỏ vai trò bảo thủ và mạnh mẽ lao sang cánh tả khiến một số bạn mới của tôi phải hoảng sợ.

– Thế này là thế nào? – bà chủ trọ của tôi gạn hỏi. – Có lẽ tôi nhầm khi đưa anh ra làm gương cho các con tôi.

Tôi bỏ bễ việc học. Những kiến thức mang về từ Ôđétxa cũng tạm đủ để tôi duy trì vị trí đứng đầu lớp chính thức, nhưng càng ngày tôi càng nghỉ học nhiều. Một bận ông thanh tra đến nhà tôi xem vì sao tôi hay vắng mặt. Tôi cảm thấy bị xúc phạm tột độ. Nhưng ông ta tỏ ra lịch sự, ông nhận thấy trong gia đình tôi trọ cũng như ở phòng tôi, mọi thứ đều trật tự. Cuối cùng ông lặng lẽ ra về. Dưói tấm đệm tôi nằm có vài cuốn sách bất hợp pháp.

Ngoài những thanh niên có cảm tình với chủ nghĩa mác-xít, ở Nhicôlaiép lần đầu tiên tôi gặp các cựu tù nhân bị lưu đày đang sống dưới sự quản thúc của cảnh sát. Đó là những nhân vật hạng hai từ thời kỳ suy thoái của phong trào dân túy. Những người xã hội dân chủ còn chưa được thả khỏi nơi tù đày: họ vẫn đang bị gửi đi. Hai dòng chảy ngược làm thành những luồng xoáy ý thức hệ. Tôi cũng quay cuồng trong đó một thời gian. Thế giới của những người dân túy bốc lên mùi mốc. Chủ nghĩa mác-xít làm tôi sợ vì cái ”hẹp hòi” của nó. Bị sự sốt ruột hành hạ, tôi cố gắng nắm bắt bản chất những hệ tư tưởng. Nhưng chúng không dễ đầu hàng. Quanh tôi, tôi không thấy ai có thể là chỗ dựa chắc chắn. Và ngoài ra, mỗi buổi nói chuyện mới lại làm tôi cay đắng, thất vọng đau đớn về sự kém cỏi của mình.

Tôi làm quen và quan hệ bạn bè với một người làm vườn gốc Tiệp tên là Sơvigốpxki [Chvigovsky]. Lần đầu tiên, tôi gặp một công nhân thông thạo báo chí, đọc được tiếng Đức, hiểu biết các tác phẩm cổ điển và tham gia một cách hoàn toàn tự tin trong các cuộc tranh luận giữa những người mác- xít và dân túy. Căn nhà vườn một buồng của ông là nơi gặp gỡ của lũ học sinh vãng lai, những tù nhân cũ và một số thanh niên địa phương. Qua Sơvigốpxki có thể kiếm được các cuốn sách cấm. Trong câu chuyện của các cựu tù nhân, tên một số nhà dân túy được nhắc đến: Giêliabốp [Jéliabov], Pêrốpxcaia [Perovskaia], Phigơne [Figner], không phải như những anh hùng trong huyền thoại mà như các nhân vật sống động mà nếu không phải họ – những kẻ đang bị tù đày – thì các đồng sự cao tuổi hơn của họ đã có cơ hội gặp gỡ. Tôi cảm thấy mình như một mắt xích nhỏ được gắn vào sợi dây lớn.

Tôi nhào vào sách vở, sợ rằng cả một đời cũng không đủ để chuẩn bị hành động. Tôi đọc một cánh nóng nảy, vội vã và vô hệ thống. Sau những tài liệu bất hợp pháp thời kỳ trước, tôi chuyển sang Luận lý của Giôn Xtua Min [John Stuart Mill], rồi chìm vào Văn hóa nguyên thủy của Líppe [Lipper] khi chưa đọc đến nửa cuốn Luận lý. Tôi coi thuyết vị lợi của Bentam [Bentham] như đỉnh cao tư tưởng nhân loại. Sau vài tháng, tôi cảm thấy mình hoàn toàn là đệ tử của Bentam. Cũng theo chiều hướng đó, tôi say mê mỹ học hiện thực của Trécnưsépxki [Tchernychevsky]. Chưa ngốn xong Líppe, tôi đã lao vào Lịch sử cách mạng Pháp của Minhê [Mignet]. Mỗi cuốn sách đều có cuộc sống riêng trong tôi, chúng không tìm được chỗ đứng của mình trong một hệ thống. Tôi chiến đấu căng thẳng, đôi khi điên cuồng để hệ thống hóa. Đồng thời tôi lại xa cách với chủ nghĩa mác-xít một phần vì nó đã tự tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh.

Cũng vào thời gian đó, tôi bắt đầu đọc báo, nhưng không như hồi ở Ôđétxa mà trên phương diện chính trị. Có uy tín nhất là tờ báo mang tư tưởng tự do Rútxkiê Vêđômôxchi [Rousskia Viédomosti] (Tin tức nước Nga) xuất bản ở Mátxcơva. Chúng tôi không chỉ đọc mà hầu như còn nghiên cứu tờ báo, từ những xã luận của các giáo sư bất lực đến các bài phổ biến khoa học nhiều kỳ. Tờ báo tự hào nhất với đội ngũ phóng viên ở nước ngoái, đặc biệt là tại Béclin. Nhờ Rútxkiê Vêđômôxchi, lần đầu tôi có ý niệm về đời sống chính trị Tây Âu, nhất là về những đảng phái nghị trường. Bây giờ khó tưởng tượng được chúng tôi đã đọc những bài nói chuyện của Bêben [Bebel] và ngay cả của Ơgien Ríchte [Eugen Richter] với vẻ hồi hộp như thế nào. Và đến nay, tôi vẫn nhớ một câu nói mà Đaxinski [Daszinski] ném vào mặt bọn cảnh binh đang kéo vào tòa nhà quốc hội: ”Tôi đại diện cho ba vạn công nhân và nông dân Galixi [Galicie], kẻ nào dám động đến tôi?” Hầu như chúng tôi nhìn thấy bằng con mắt nội tâm của mình hình ảnh khổng lồ của nhà cách mạng xứ Galixi. Viễn cảnh sân khấu của chế độ đại nghị, tiếc thay, đã huyễn hoặc chúng tôi một cách tai ác. Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Đức, bầu cử tổng thống ở Mỹ, xáo trộn trong Râyxrát [Reichsrat] (Áo), hoạt động của lũ bảo hoàng Pháp – tất cả những điều này thu hút mạnh mẽ chúng tôi hơn nhiều so với số phận riêng của chính mình.

Giữa lúc ấy, quan hệ giữa tôi với gia đình xấu đi. Cha tôi đi bán bột mì ở Nhicôlaiép, không biết bằng cách nào, đã biết những mối quen biết mới của tôi. Cảm thấy hiểm nguy sắp đến với tôi, song ông vẫn hi vọng ngăn ngừa tôi bằng sức mạnh của uy quyền người cha. Chúng tôi có vài cuộc nói chuyện sóng gió. Tôi tỏ ra bất trị khi bảo vệ sự tự lập và quyền lựa chọn đường đi cho chính mình. Cuối cùng, tôi từ chối sự trợ giúp vật chất của gia đình, bỏ chỗ trọ học sinh và chuyển đến ở cùng Sơvigốpxki, lúc đó anh vừa thuê một cái vườn khác to hơn với căn nhà gỗ rộng hơn. Ở đây, sáu người chúng tôi sống thành một ”công xã”. Mỗi mùa hè, quân số chúng tôi tăng thêm một, hai học sinh bị lao và cần bầu không khí trong lành. Tôi bắt đầu mở lớp dạy. Chúng tôi sống khắc khổ, không có đồ trải giường và ăn thứ xúp hổ lốn tồi tệ tự nấu. Mặc áo dài xanh, đội mũ rơm vành tròn, chúng tôi ve vẩy chiếc gậy đen trong tay. Ở thành phố, người ta đồn đại rằng chúng tôi thuộc một giáo phái bí mật nào đó. Chúng tôi đọc không theo một hệ thống nào rồi tranh luận dữ dội, say sưa vạch ra tương lai và hạnh phúc theo lối riêng của mình.

Ít lâu sau, chúng tôi lập một hội truyền bá những sách vở hữu ích trong quần chúng. Chúng tôi thu nhập tiền quyên góp, mua những sách rẻ tiền nhưng không biết cách phổ biến. Trong vườn của Sơvigốpxki,  có một công nhân làm thuê và một thiếu niên học nghề làm việc. Chúng tôi bỏ sức truyền bá cho họ là chính. Nhưng gã công nhân lại là một tên sen đầm trá hình, được cài vào làm việc ở vườn để theo dõi chúng tôi. Tên hắn là Kirin Thôrơgiépxki [Kirill Tjorjevsky]. Thằng bé học nghề cũng do hắn đưa tới. Nó cuỗm của chúng tôi một bọc to đựng sách phổ thông và đem về đồn cảnh sát. Khởi đầu của chúng tôi rõ ràng là không may mắn. Nhưng lòng tin của chúng tôi vào thành công sắp tới thì không gì lay chuyển được.

Tôi viết cho một tờ dân túy tại Ôđétxa một bài bút chiến chống tạp chí mác-xít đầu tiên ở địa phương. Bài báo gồm nhiều đề từ, trích dẫn và chỉ trích nanh nọc, phần nội dung thì kém hơn nhiều. Tôi gửi bài báo qua bưu điện và một tuần sau đích thân đi nhận hồi âm. Ông tổng biên tập nhìn tác giả – một chàng trai có mớ tóc xù khổng lồ trên trán và mặt chưa gợn chút lông tơ nào – qua cặp kính to sụ, vẻ thiện cảm. Bài báo không được đăng. Như thế chẳng ai mất gì cả và tôi là kẻ mất ít nhất.

Khi ban lãnh đạo thư viện công cộng (được lựa chọn bằng bầu bán) muốn nâng niên phí từ năm  lên sáu rúp, chúng tôi thấy đó là ý đồ xa rời dân chủ và gióng chuông báo động. Trong mấy tuần, chúng tôi không làm gì khác ngoài việc tổ chức đại hội các hội viên thư viện. Chúng tôi dốc sạch túi, góp những đồng rúp và nửa rúp và ghi tên những hội viên mới, cấp tiến hơn; trong số họ, nhiều người chẳng những không có nổi sáu rúp mà còn chưa đủ hai mươi tuổi như điều lệ đòi hỏi. Quyển sổ khiếu nại của thư viện bị chúng tôi biến thành tập hợp những bài đả kích chua cay. Trong kỳ họp hàng năm, có hai phái đối chọi nhau: một bên gồm các viên chức, giáo viên, các địa chủ tự do và sĩ quan hải quân; bên kia, chúng tôi, đại diện phe dân chủ. Chúng tôi đã chiến thắng trên toàn trận tuyến: phục hồi lệ phí năm rúp và bầu ra ban lãnh đạo mới.

Một lúc chạy theo nhiều mục tiêu, chúng tôi quyết định tổ chức một trường đại học tự do trên cơ sở dạy lẫn nhau. Có khoảng hai chục thính giả. Tôi phụ trách những bài giảng về khoa học xã hội. Nghe oách lắm. Tôi dốc toàn lực chuẩn bị cho khóa học. Nhưng sau hai bài giảng khá thành công trên tổng thể, tôi cảm thấy mình hoàn toàn cạn nguồn. Một người khác – phụ trách phần lịch sử cách mạng Pháp – lúng túng ngay từ mấy câu đầu và hứa rằng sẽ giảng bằng bài viết. Cố nhiên anh ta không giữ lời hứa. Sự nghiệp chúng tôi chấm dứt tại đó.

Tôi cùng anh chàng giảng viên thứ hai kia – là anh cả trong mấy anh em nhà Xôcôlốpxki [Sokolovsky] – quyết định viết một vở kịch. Vì mục đích ấy, chúng tôi còn rời khỏi ”công xã” một thời gian và thuê một buồng riêng; chúng tôi không cho ai địa chỉ. Vở kịch của chúng tôi chứa đầy nội dung xã hội, được trình bày trên nền cuộc đấu tranh giữa các thế hệ. Mặc dù cả hai tác giả vở kịch còn ngờ vực chủ nghĩa mác-xít, hình tượng nhà dân túy trong kịch có dáng vẻ một kẻ tàn tật trong khi sự tươi trẻ, sục sôi và hi vọng lại là đặc tính của những nhà mác-xít trẻ. Mới biết ảnh hưởng của thời đại mạnh đến chừng nào! Đoạn lãng mạn được đặc tả như sau: một nhà cách mạng thế hệ trước bị cuộc đời giày đạp lại mê một cô gái mác-xít, nhưng bị cô cho một bài độc thoại không thương tiếc về sự sụp đổ của phong trào dân túy.

Chúng tôi bỏ nhiều công sức vào vở kịch. Đôi khi chúng tôi cùng viết, động viên và sửa chữa cho nhau, thỉnh thoảng chúng tôi chia nhau công việc và mỗi người trong ngày phải xong một cảnh hoặc một màn độc thoại. Phải nói rằng những cuộc độc thoại như thế không hề thiếu trong vở kịch.

Tối tối Xôcôlốpxki đi làm về, anh tha hồ thảo ra những lời than vãn của nhà cách mạng thập kỷ bảy mươi với cuộc đời tan nát. Tôi cũng về từ mấy lớp dạy thêm hay từ chỗ Sơvigốpxki. Cô con gái bà chủ trọ mang ấm xa-mô-va ra. Xôcôlốpxki móc túi lôi bánh mì và xúc xích. Thế rồi, cách ly với bên ngoài bởi cái vỏ thép kỳ bí, các nhà soạn kịch làm việc căng thẳng suốt phần còn lại của buổi tối. Chúng tôi viết xong toàn bộ hồi một, không quên chêm vào một cảnh gây ấn tượng trước khi màn hạ. Các hồi khác – còn bốn hồi nữa – mới chỉ được phác thảo.

Tuy nhiên càng đi sâu vào công việc, chúng tôi càng thấy nguội lạnh. Sau một thời gian ngắn, chúng tôi đi đến quyết định rời bỏ cái phòng trọ bí mật và hoãn phần kết của vở bi kịch. Tập bản thảo được Xôcôlốpxki chuyển sang một nhà khác. Sau này khi chúng tôi ngồi tù ở Ôđétxa, Xôcôlốpxki nhờ thân nhân của anh tìm tập bản thảo. Có lẽ anh thoáng nghĩ thời kỳ tù đày sẽ là dịp thích hợp để hoàn thành vở kịch. Nhưng bản thảo đã biến mất không dấu tích. Khả năng lớn nhất là những người cất giữ nó thấy đốt đi là tốt hơn cả, sau khi các tác giả bất hạnh bị bắt. Tôi nhẹ nhõm hơn với ý nghĩ trên đường đời không bằng phẳng của mình, tôi đã để mất những bản thảo quan trọng gấp bội phần.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s